Để bảo vệ sức khỏe cho vẹt cảnh, việc nhận biết sớm các bệnh thường gặp là điều tối quan trọng vì loài chim có tốc độ chuyển biến bệnh rất nhanh. Do hệ miễn dịch và cấu tạo cơ thể đặc thù, vẹt nuôi nhốt thường dễ mắc phải 5 nhóm bệnh phổ biến dưới đây.
Dưới đây là chi tiết về nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp phòng ngừa cho từng loại bệnh:
1. Bệnh viêm đường hô hấp (Cảm lạnh, Viêm phổi)
- Nguyên nhân: Do virus, vi khuẩn hoặc nấm tấn công khi môi trường sống bị thay đổi nhiệt độ đột ngột, chuồng nuôi đặt ở nơi có gió lùa trực tiếp hoặc hít phải khói độc (thuốc lá, nước hoa, Teflon).
- Triệu chứng: Vẹt thở khò khè, há mỏ để thở, đuôi giật gật liên tục theo nhịp thở, có dịch nhầy chảy ra từ lỗ mũi, mắt nhắm hờ và xù lông rũ cánh.
- Cách phòng ngừa: Đặt chuồng nuôi ở vị trí thông thoáng nhưng tuyệt đối tránh gió lùa. Không để vẹt trong phòng máy lạnh quá lạnh hoặc ngay dưới hướng gió của quạt điện. Cách ly vẹt khỏi tất cả các chất tạo mùi và khói bếp.

2. Bệnh đường ruột (Tiêu chảy, Viêm dạ dày)
- Nguyên nhân: Do ăn phải thức ăn ôi thiu, rau củ quả chưa rửa sạch còn tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, hoặc uống nước nhiễm khuẩn.
- Triệu chứng: Phân lỏng hoàn toàn, không thành khuôn, đổi màu lạ (xanh nồng, vàng hoặc lẫn máu), phần lông xung quanh hậu môn bết dính phân và ẩm ướt, vẹt bỏ ăn lờ đờ.
- Cách phòng ngừa: Thay nước uống và dọn sạch thức ăn thừa hàng ngày. Rau củ quả tươi phải được rửa thật sạch và để ráo nước trước khi cho ăn. Định kỳ khử trùng máng ăn, máng nước bằng dung dịch chuyên dụng.
3. Bệnh nấm diều (Candidiasis)
- Nguyên nhân: Do nấm men Candida albicans phát triển quá mức trong hệ tiêu hóa, thường gặp nhất ở vẹt non đút tay khi bột bị pha quá đặc, bột bị chua do để lâu, hoặc nhiệt độ bột quá nguội khiến diều bị chậm tiêu hóa.
- Triệu chứng: Diều của vẹt bị sưng to đầy nước/hơi và không tiêu sau nhiều giờ, vẹt hay nôn mửa ra dịch nhầy có mùi chua, miệng xuất hiện các mảng bám màu trắng ngà.
- Cách phòng ngừa: Luôn pha bột mới cho mỗi bữa ăn của vẹt non và cho ăn khi bột còn ấm (38°C – 40°C). Không cho vẹt ăn dồn khi bữa trước chưa tiêu hết. Vệ sinh và luộc sôi xi-lanh đút bột sau mỗi lần sử dụng.
4. Bệnh tự nhổ lông (Hội chứng Psittacine)
- Nguyên nhân: Đây phần lớn là bệnh lý về tâm lý do vẹt bị stress nghiêm trọng, cô đơn, chán nản do không được tương tác, hoặc bị nhốt trong lồng quá chật hẹp. (Một số ít trường hợp do ký sinh trùng hoặc thiếu chất).
- Triệu chứng: Vẹt dùng mỏ tự rứt sạch lông ở các vùng cơ thể mà mỏ với tới được (ngực, bụng, cánh), để lại những mảng da trọc lóc, thậm chí tự cắn rách da chảy máu.
- Cách phòng ngừa: Dành ít nhất 1 tiếng mỗi ngày để chơi đùa và tương tác với vẹt. Cung cấp đầy đủ đồ chơi gặm nhấm, đồ chơi trí tuệ và thay đổi đồ chơi 2 tuần/lần để kích thích trí não của vẹt, giúp chúng không bị nhàm chán khi bạn vắng nhà.
5. Bệnh ký sinh trùng (Ké, Rận, Ghẻ)
- Nguyên nhân: Do ve, rận, ký sinh trùng bám vào da lông khi vẹt tiếp xúc với chim hoang dã hoặc do chuồng trại ẩm thấp, không được vệ sinh. Riêng bệnh ghẻ (do loài ve Knemidocoptes) thường làm sùi mỏ và chân.
- Triệu chứng: Vẹt liên tục dùng mỏ gãi, rỉa lông một cách bứt rứt; vùng da quanh mỏ, mắt hoặc chân bị sùi lên các lớp vảy trắng dày như vôi; lông xơ xác và dễ rụng.
- Cách phòng ngừa: Cho vẹt tắm nước thường xuyên vào những ngày ấm áp và tắm nắng sáng 15 – 20 phút mỗi ngày để diệt khuẩn. Tuyệt đối không cho vẹt tiếp xúc với chim hoang dã ngoài trời. Cách ly nghiêm ngặt vẹt mới mua từ 30 – 45 ngày trước khi cho nhập đàn.





